Chương trình hành động đề ra các nhiệm vụ, đề án trọng tâm giai đoạn 2026-2030, phân công trách nhiệm cụ thể, rõ nguồn lực, tiến độ và các điều kiện để thực hiện, làm căn cứ để các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, góp phần hoàn thành thắng lợi các mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV đề ra.
Bộ VHTTDL đã ban hành Chương trình hành động của Bộ thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam, Nghị quyết số 41/NQ-CP, Nghị quyết số 30/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị.

10 mục tiêu đến năm 2030
1. Hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa quốc gia, bảo đảm 100% chính quyền địa phương 2 cấp, lực lượng vũ trang có thiết chế văn hóa đáp ứng được nhu cầu sáng tạo, thụ hưởng văn hóa của người dân ở cơ sở và cán bộ, chiến sĩ, 90% thiết chế văn hóa cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả.
2. Phấn đấu hoàn thành việc số hóa 100% các di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026.
3. 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa.
4. Bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phát triển văn hóa; bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn.
5. Ban hành cơ chế tài chính để ưu tiên thực hiện trong 3 đột phá: (i) Đào tạo và đãi ngộ nhân tài trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; (ii) ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa; (iii) đặt hàng sáng tạo các công trình văn hóa, tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật, xứng tầm với nền văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
6. Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP của đất nước; hình thành từ 5 – 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa trong các lĩnh vực có tiềm năng, như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế và thời trang…
7. Xây dựng thành công 5 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa quốc tế về điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật. Thành lập thêm từ 1 – 3 trung tâm văn hóa Việt Nam tại nước ngoài, ưu tiên các địa bàn đối tác chiến lược toàn diện. Phấn đấu thêm 5 di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi danh.
8. Phấn đấu đón được từ 45 – 50 triệu lượt khách quốc tế và 160 triệu lượt khách nội địa; duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân về khách quốc tế từ 8 – 10%/năm và khách nội địa từ 5 – 6%/năm. Tạo ra khoảng 8,5 triệu việc làm, trong đó có khoảng 3 triệu việc làm trực tiếp, tăng trưởng bình quân 8 – 9%/năm. Tổng thu từ khách du lịch đạt 3.100 – 3.200 nghìn tỉ đồng (tương đương 130 – 135 tỉ USD), tăng trưởng bình quân 11 – 12%/năm; đóng góp trực tiếp vào GDP đạt 15 – 17%.
9. Thể thao thành tích cao duy trì trong tốp 3 tại các kỳ SEA Games và trong tốp 20 tại các kỳ ASIAD; trong đó phấn đấu đạt từ 5 đến 7 huy chương vàng tại các kỳ ASIAD, có huy chương tại các kỳ Olympic và Paralympic, bóng đá nam trong tốp 10 châu Á và bóng đá nữ trong tốp 8 châu Á.
10. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, thông tin và truyền thông:
– 97% cơ quan báo; 70% tạp chí đưa nội dung lên các nền tảng số (ưu tiên các nền tảng số trong nước).
– 65% cơ quan báo chí sử dụng nền tảng phân tích, xử lý dữ liệu tổng hợp tập trung, ứng dụng trí tuệ nhân tạo để tối ưu hóa hoạt động.
– 70% cơ quan báo hoạt động, vận hành mô hình tòa soạn hội tụ.
– 100% các đài phát thanh, đài truyền hình Quốc gia đưa nội dung lên nền tảng số (ưu tiên các nền tảng số trong nước).
– 100% kênh chương trình phát thanh, kênh chương trình truyền hình phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyền thiết yếu của Quốc gia phát sóng 24 giờ/ngày.
– Tổng số sách xuất bản hằng năm đạt khoảng 600 triệu bản, tỉ lệ bản sách/người đạt 6-6,5 bản sách/người; doanh thu toàn ngành đạt khoảng 5.000 tỉ đồng. Xuất bản phẩm xuất khẩu đạt 1,5 triệu bản. Kim ngạch xuất khẩu xuất bản phẩm đạt khoảng 5,5 triệu USD.
– 100% xã, phường, đặc khu có hệ thống truyền thanh ứng dụng công nghệ thông tin viễn thông hoạt động đến thôn, bản, tổ dân phố.
– 100% cơ quan báo chí đối ngoại quốc gia phát hành, phát sóng sản phẩm báo chí ra nước ngoài bằng nhiều phương thức khác nhau phục vụ bạn bè quốc tế và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

8 nhiệm vụ trọng tâm
1. Đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất cao về nhận thức và hành động nhằm phát triển văn hóa, du lịch, thể thao, thông tin
2. Tiếp tục hoàn thiện thể chế tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực phát triển văn hóa, du lịch, thể thao, thông tin
3. Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, văn minh, trong đó có một số nhiệm vụ chủ yếu:
Ban hành Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam.
Xây dựng Đề án thúc đẩy các phong trào, hoạt động văn hóa cơ sở, lấy người dân làm trung tâm.
Xây dựng và triển khai Chương trình phối hợp hành động giữa Bộ VHTTDL với các ban, bộ, ngành, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị – xã hội liên quan để phát huy sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình – nhà trường – xã hội trong hình thành và hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam.
Lồng ghép việc xây dựng môi trường văn hóa trong không gian phát triển của từng vùng, từng địa phương, phát huy không gian văn hóa đô thị, nông thôn, văn hóa biển và miền núi trong các Chiến lược, quy hoạch chuyên ngành văn hóa, du lịch, thể thao, thông tin.
Triển khai nội dung “Xây dựng cộng đồng văn hóa cơ sở giàu bản sắc, sáng – xanh – sạch – đẹp” vào Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.
Xây dựng và triển khai Đề án “Bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với du lịch và phát triển kinh tế trong kỷ nguyên mới”.
Xây dựng, ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026-2030”.
Xây dựng, triển khai Chương trình “Xây dựng thế trận văn hoá gắn với quốc phòng, an ninh, củng cố phòng tuyến văn hoá tư tưởng”.
Rà soát tiếp tục hoàn thiện quy hoạch và đầu tư phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao đồng bộ, hiện đại. Xây dựng Chương trình văn hóa đọc trong cộng đồng, triển khai xây dựng tủ sách cộng đồng số và các mô hình thư viện mở, không gian đọc linh hoạt tại khu vực đô thị và nông thôn, nhằm xây dựng thói quen kỹ năng đọc sách, bảo đảm quyền tiếp cận tri thức của người dân.
Kiên trì và có giải pháp quyết liệt chấn chỉnh, hạn chế, đẩy lùi những biểu hiện tiêu cực, suy thoái về văn hoá, đạo đức, lối sống, các biểu hiện thực dụng, “lợi ích nhóm” trong hoạt động văn hoá; đấu tranh với diễn biến hoà bình trên lĩnh vực văn hoá tư tưởng; chống sự xâm nhập của văn hoá phẩm độc hại, những hành vi phi văn hoá, lai căng, phản cảm; kiên quyết xử lý thông tin xấu, độc, phản văn hoá, tin giả trên mạng xã hội và phương tiện thông tin khác.
Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát huy vai trò nền tảng của văn hóa trong việc hình thành bản lĩnh, “sức đề kháng” trước các tác động phức tạp và lệch chuẩn của văn hóa ngoại lai; giữ gìn thuần phong mỹ tục, vun đắp niềm tự hào và khát vọng cống hiến vì sự phát triển của đất nước.
Xây dựng và vận hành hạ tầng văn hóa số, nền tảng văn hóa số toàn dân do nhà nước đóng vai trò chủ đạo (trọng tâm là dịch vụ: Thư viện số, bảo tàng số, nghệ thuật biểu diễn trực tuyến, lớp học nghệ thuật trực tuyến…).
4. Đổi mới phương thức quản lý; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo động lực bứt phá cho phát triển văn hóa, du lịch, thể thao, thông tin
5. Xây dựng hệ sinh thái văn hóa, du lịch, thể thao, thông tin, thúc đẩy sáng tạo, trong đó doanh nghiệp là động lực, người dân vừa là chủ thể vừa là trung tâm, nhận diện và ứng xử thích hợp với tài nguyên văn hóa: Phát triển hệ sinh thái văn hóa sáng tạo, gắn kết chuỗi giá trị văn hóa: nghiên cứu – sáng tác – sản xuất – kinh doanh với khởi nghiệp sáng tạo và ứng dụng công nghệ mới; hình thành công chúng văn hóa số; Triển khai mô hình “Mỗi di sản – Một câu chuyện – Một sản phẩm số – Sức sống từ truyền thống đến hiện đại”: Phát triển các thiết chế mới như văn hóa số, bảo tàng mở, nhà hát di động, thư viện số; gắn văn hóa với du lịch và truyền thông; Xây dựng môi trường phát triển nhân lực văn hóa, tạo điều kiện bồi dưỡng, phát huy tài năng; đồng thời có cơ chế tôn vinh, khen thưởng các cá nhân có đóng góp xuất sắc…
6. Thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa, định vị sản phẩm văn hóa thương hiệu quốc gia, gắn với phát triển du lịch văn hóa: Xây dựng và triển khai Đề án “Phát triển thương hiệu quốc gia về du lịch 8 trên nền tảng văn hóa trong kỷ nguyên mới”; Xây dựng Đề án phát triển du lịch với các giải pháp đột phá để đạt mục tiêu thu hút 45-50 triệu khách quốc tế vào năm 2030; Xây dựng và triển khai Đề án phát triển 05-10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa trong các lĩnh vực có tiềm năng như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế, thời trang, trong đó có ít nhất 1 thương hiệu nhà nước mang tính dẫn dắt, 1 thương hiệu về văn hóa số; Xây dựng Đề án thiết lập và vận hành hiệu quả hệ thống thông tin hai chiều giữa Nhà nước và người dân, thông qua các nền tảng số, các công cụ lấy ý kiến Nhân dân; Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành triển khai các nhiệm vụ về phát triển thị trường, mở rộng xuất khẩu sản phẩm văn hóa…
7. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa, du lịch, thể thao, thông tin đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới: Xây dựng Chiến lược quốc gia phát triển nhân lực văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Xây dựng Đề án “Định giá kinh tế di sản – TEV, lượng hóa giá trị kinh tế tổng thể di sản”; Xây dựng và triển khai Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực văn hóa nghệ thuật ở nước ngoài đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; Xây dựng chương trình đào tạo 5.000 nhân lực phát triển game Việt Nam phục vụ giáo dục lịch sử, văn hóa Việt Nam; Phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ phục vụ chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa…
8. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, du lịch, thể thao, thông tin góp phần tăng sức mạnh mềm quốc gia: Xây dựng, tổ chức các hoạt động văn hóa đối ngoại cấp cao gắn với các chuyến thăm và sự kiện quốc tế lớn; Phát triển thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa, gắn truyền thông – ngoại giao văn hóa – xuất khẩu sản phẩm sáng tạo; Mở rộng hiện diện văn hóa Việt Nam ở nước ngoài: tăng cường truyền thông quốc tế, phát triển trung tâm văn hóa, đội ngũ tùy viên văn hóa; Quảng bá các giá trị văn hóa đặc trưng, đặc biệt là ẩm thực, lễ hội, nghệ thuật; xây dựng tiêu chuẩn và thương hiệu quốc gia; Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và vai trò tại các diễn đàn đa phương, gắn văn hóa với kinh tế, thương mại; phát huy vai trò UNESCO; Phát triển nguồn lực sáng tạo và giao lưu quốc tế, hỗ trợ nghệ sĩ, tổ chức các cuộc thi, liên hoan tầm khu vực và quốc tế; Đẩy mạnh dịch thuật, xuất bản và bảo vệ bản sắc văn hóa, chủ động hội nhập nhưng kiểm soát các yếu tố ngoại lai tiêu cực.
Về tổ chức thực hiện, thành lập Ban Chỉ đạo của Bộ VHTTDL chỉ đạo, tổ chức triển khai Chương trình hành động do Bộ trưởng làm Trưởng Ban; thành phần gồm lãnh đạo các cơ quan, đơn vị liên quan để chỉ đạo, giám sát thường xuyên, tổ chức thực hiện toàn diện, có hiệu quả các nội dung của Chương trình hành động.
CTTĐT
