Sự kiện

Ký ức về những lớp học giữa thời chiến

Từ những lớp học tranh tre, nứa lá ở vùng sơ tán năm 1965 đến lớp học trong chùa làng, dưới những căn hầm trú ẩn năm 1972, việc dạy và học của thầy trò Hà Nội vẫn được duy trì giữa bom đạn. Những ký ức về một thời “tiếng giảng bài giữa tiếng còi báo động” được các nhân chứng chia sẻ tại tọa đàm “Lớp học thời chiến – Ký ức từ những vùng sơ tán”, do Bảo tàng Hà Nội tổ chức sáng 8/10.

Năm 1965, PGS.TS Nguyễn Thị Huệ vừa nhập học Trường Lý luận nghiệp vụ Văn hóa được 3 ngày thì nhận lệnh sơ tán về Yên Dũng, Hà Bắc, nay thuộc Bắc Ninh. Những sinh viên tuổi 16-17 lên đường với hành trang đơn giản, người đi xe đạp, người đi bộ theo từng nhóm. Rời Hà Nội trong không khí khẩn trương của những ngày chiến tranh, họ chưa thể hình dung cuộc sống phía trước sẽ ra sao, chỉ biết đến nơi sơ tán để tiếp tục việc học.

PGS.TS Nguyễn Thị Huệ chia sẻ về những ký ức của mình cùng những kỷ vật theo bà từ khi còn là học sinh, sinh viên

Tại nơi ở mới, nhà trường đã chuẩn bị những lớp học đơn sơ trên các quả đồi, dựng bằng tranh, tre, nứa, lá. Lớp của bà Huệ có 24 sinh viên. Không có điện nên việc học chủ yếu diễn ra vào ban ngày; phấn được sử dụng hết sức tiết kiệm, mỗi tuần lớp cử một người đi nhận một hộp phấn, gần như chỉ dành cho thầy cô viết bảng. Sách vở cũng thiếu thốn, có lúc sinh viên phải dùng cành rào làm bút, viết xuống đất để học chữ Hán – Nôm.

Việc học được kết hợp với tăng gia sản xuất. Sinh viên trồng rau, thay phiên nhau nhận lương thực, nhu yếu phẩm cho bếp tập thể. Mùa đông ở vùng sơ tán lạnh giá, những chiếc giường tre được ghép lại để các nữ sinh nằm cùng nhau cho đỡ rét; những món quà quê ít ỏi cũng được chia sẻ cho cả lớp. Xa gia đình, thầy trò và bạn bè trở thành chỗ dựa của nhau. “Ở nơi sơ tán hầu như không có người nhà lên thăm nên tình cảm giữa thầy – trò, giữa các bạn học rất sâu đậm”, bà Huệ nhớ lại.

Ba năm học tập trong điều kiện thiếu thốn đã trở thành một phần ký ức sâu đậm trong cuộc đời bà. Những năm tháng ấy cho thấy, dù trường lớp phải rời khỏi Hà Nội, việc học vẫn được duy trì; những người trẻ vẫn cùng nhau học tập, tăng gia và vượt qua những khó khăn của cuộc sống thời chiến.

Từ lớp học trên sườn đồi đến căn hầm trú ẩn

Năm 1972, câu chuyện về những lớp học thời chiến tiếp tục được tái hiện qua ký ức của thầy giáo Bùi Dương Hòa. Sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, ông tình nguyện lên Yên Thế, Hà Bắc giảng dạy và sau đó gắn bó với giáo dục miền núi hơn 40 năm.

Lớp học của thầy nằm sâu trong sườn đồi, giữa rừng dẻ, mái hình chữ A dựng bằng nứa; các lớp không ở liền nhau nhưng được nối bằng giao thông hào để thầy trò có thể nhanh chóng trú ẩn khi có báo động. Mỗi lớp có khoảng 35-40 học sinh. Nơi ở của giáo viên cũng hết sức đơn sơ, chỉ có một chiếc giường, một bộ bàn và một chiếc hòm đựng đồ cá nhân, bếp ăn dùng chung.

Trong hoàn cảnh thiếu thốn ấy, người thầy phải tìm những cách riêng để việc học trở nên dễ tiếp thu hơn. Với môn Hóa học có nhiều kiến thức khó nhớ, thầy Hòa sáng tác bài ca hóa trị, những câu thơ về đồng đẳng, đồng phân để học sinh ghi nhớ. Những cách dạy giản dị mà sáng tạo ấy không chỉ giúp các em nắm được kiến thức mà còn trở thành một phần ký ức đẹp về người thầy trong những năm tháng chiến tranh.

Cũng trong năm 1972, ông Nguyễn Ngọc Long, nguyên học sinh Trường Tiểu học Cát Linh, khi ấy mới tám, chín tuổi, rời Hà Nội về sơ tán tại khu vực Chương Mỹ – Chùa Trăm Gian. Ông vẫn nhớ buổi chiều đang chơi ở khu phố Hàng Bột thì nghe loa thông báo lệnh sơ tán. Về đến nhà, ông thấy bố mẹ vội vàng chuẩn bị quần áo, sách vở cho mình về quê ngoại. “Lúc ấy tôi cũng không hiểu sơ tán là gì. Chỉ biết mình sẽ về bà ngoại ở và học ở đó”, ông kể.

Ông Nguyễn Ngọc Long chia sẻ ký ức những ngày rời Hà Nội về sơ tán tại khu vực Chương Mỹ – Chùa Trăm Gian.

Những ngày đầu, lớp học được tổ chức trong một ngôi chùa làng, bên ngoài hàng tre có hệ thống hầm trú ẩn để học sinh nhanh chóng di chuyển khi có báo động. Khi bom đạn trở nên ác liệt hơn, lớp học được chuyển xuống hầm. Thầy cô, học sinh và người dân địa phương cùng đào đất, làm hầm, đào hào để bảo đảm an toàn.

Trong một lần đào hầm, Long bị bạn cuốc trúng gót chân, vết thương sâu và chảy nhiều máu. May mắn gần đó có một đơn vị bộ đội phòng không, ông được quân y cấp cứu, khâu vết thương. Vết sẹo dài vẫn còn trên chân ông đến hôm nay, trở thành dấu tích không thể quên của những ngày sơ tán.

Thế nhưng, ký ức về những ngày học tập nơi sơ tán không chỉ có bom đạn. Học nửa ngày, thời gian còn lại, cậu bé Hà Nội theo những người bạn nông thôn ra đồng bắt châu chấu, mò cua, bắt ốc; học cách làm đồ chơi từ lá chuối, cuống đu đủ, quả mây. Các thầy cô còn dạy học sinh cách tìm nơi trú ẩn khi máy bay xuất hiện, cách xử lý vết thương, đan mũ rơm, sử dụng bông băng và thuốc đỏ. Đó là những bài học gắn trực tiếp với cuộc sống, được hình thành từ chính hoàn cảnh đặc biệt của một thế hệ học sinh lớn lên trong chiến tranh.

Khi những người xa lạ trở thành người thân

Phía sau những lớp học thời chiến còn là hình ảnh những gia đình nơi sơ tán. Trong điều kiện cuộc sống vốn còn nhiều khó khăn, người dân vẫn chia sẻ chỗ ở, bữa ăn, nguồn nước, cùng thầy trò sửa sang nơi học, đào hầm, làm hào và chăm sóc những đứa trẻ phải xa gia đình. Sự sẻ chia trong những ngày tháng gian khó đã khiến những người vốn xa lạ dần trở nên gần gũi, gắn bó như người thân.

Những hình ảnh người dân Hà Nội đi sơ tán được trưng bày tại Bảo tàng Hà Nội

Với ông Long, ký ức về những đêm cuối năm 1972 vẫn đặc biệt sâu đậm. Từ vùng sơ tán cách Hà Nội khoảng 20km, ông cùng ông bà và người dân địa phương lên đồi nhìn về phía Thủ đô. Trong đêm tối, Hà Nội sáng rực bởi bom đạn, tiếng máy bay B-52 gầm rú trên bầu trời. Khi ấy, một cậu bé tám, chín tuổi chỉ biết sợ hãi và nghĩ đến bố mẹ đang ở Hà Nội.

Vài ngày sau khi kết thúc 12 ngày đêm ác liệt cuối tháng 12/1972, bố mẹ lên đón ông trở về. Khu phố Khâm Thiên, nơi gia đình sinh sống, đã tan hoang sau bom đạn. Hình ảnh ấy trở thành ký ức ám ảnh ông suốt nhiều năm.

Qua lời kể của các nhân chứng, những lớp học thời chiến hiện lên không chỉ với mái tranh, bàn ghế đơn sơ, những trang sách thiếu thốn hay những giờ học phải gián đoạn vì báo động, mà còn có hình ảnh người thầy vừa dạy chữ vừa chăm lo cho học trò, những đứa trẻ sớm học cách tự bảo vệ mình và những người dân sẵn lòng mở cửa đón người từ thành phố về sơ tán.

Trong khuôn khổ tọa đàm, các em học sinh được trải nghiệm hoạt động đan mũ rơm – chiếc mũ rơm là vật dụng đơn giản nhưng có thể hạn chế sát thương của mảnh đạn, bom bi, đồng hành cùng học sinh đến trường dưới làn bom đạn.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, những lớp học năm xưa có thể không còn, những căn hầm cũng chỉ còn lại trong ký ức. Nhưng tiếng đọc bài, tình thầy trò, tình bạn và sự đùm bọc của người dân vùng sơ tán vẫn được những người từng trải qua chiến tranh gìn giữ và kể lại. Những câu chuyện tưởng như bình dị ấy, khi được ghi chép và lưu giữ, trở thành một phần tư liệu về Hà Nội trong những năm tháng chiến tranh, đồng thời góp phần làm rõ hơn một chặng đường của lịch sử giáo dục Thủ đô.

Thông qua chương trình, Bảo tàng Hà Nội mong muốn tiếp tục tiếp nhận thông tin, câu chuyện, hình ảnh, tài liệu và hiện vật của các nhân chứng, gia đình từng tham gia sơ tán. Mỗi tư liệu được cung cấp sẽ góp phần phục vụ công tác sưu tầm, nghiên cứu, lưu trữ, trưng bày và giáo dục, để ký ức về những lớp học thời chiến tiếp tục được gìn giữ và trao truyền cho các thế hệ sau.

Tuệ Vy

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *